Bình dân hóa tiêu chuẩn ESG giúp nông hộ nhỏ tham gia chuỗi cung ứng

14/07/2026 09:25

Bối cảnh chuyển đổi xanh và những cam kết giảm phát thải khí nhà kính toàn cầu đang đặt ra những yêu cầu khắt khe đối với ngành nông nghiệp Việt Nam. Các thị trường xuất khẩu lớn liên tục thiết lập các hàng rào kỹ thuật liên quan đến tiêu chuẩn môi trường, xã hội và quản trị (ESG).

Trong chuỗi cung ứng này, nông hộ nhỏ là mắt xích trực tiếp thực hiện quy trình canh tác nhưng lại là nhóm yếu thế nhất do hạn chế về nguồn lực tài chính, quỹ đất và năng lực tiếp cận công nghệ.

Trao đổi về vấn đề này, ông Phạm Hoài Trung - chuyên gia ESG/thẩm định và đánh giá viên trưởng khí nhà kính, Chủ tịch HĐTV Công ty TNHH Công nghệ Azitech và Công ty tư vấn thực hành Phát Triển Bền Vững GreenGo, nhận định rằng mô hình nông nghiệp bền vững thực chất phải được hiểu là "xanh có bằng chứng, phát thải thấp có đo lường, và phát triển bền vững có trách nhiệm". Chuyển đổi xanh không nên trở thành một gánh nặng hành chính hay rào cản kỹ thuật loại bỏ người sản xuất quy mô nhỏ ra khỏi thị trường.

Phạm Hoài Trung - chuyên gia ESG/thẩm định và đánh giá viên trưởng khí nhà kính, Chủ tịch HĐTV Công ty TNHH  Công nghệ Azitech và Công ty tư vấn thực hành Phát Triển Bền Vững Green Go. Ảnh: Hồng Ngọc.

Phạm Hoài Trung - chuyên gia ESG/thẩm định và đánh giá viên trưởng khí nhà kính, Chủ tịch HĐTV Công ty TNHH  Công nghệ Azitech và Công ty tư vấn thực hành Phát Triển Bền Vững Green Go. Ảnh: Hồng Ngọc.

Biến các tiêu chuẩn học thuật thành hành động thực tế

Khái niệm phát triển bền vững trong nông nghiệp cần được cụ thể hóa bằng các hành động thực tiễn trên đồng ruộng thay vì duy trì như những khẩu hiệu mang tính học thuật. Bản chất của mô hình này là sự kết hợp chặt chẽ giữa ba lớp gồm: nông nghiệp xanh, nông nghiệp phát thải thấp và thực hành các tiêu chuẩn quản trị.

Đối với nông hộ nhỏ, tiêu chuẩn "môi trường" là việc giảm thiểu phân bón hóa học, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học, tiết kiệm nguồn nước tưới và xử lý phụ phẩm nông nghiệp đúng quy trình kỹ thuật. Yếu tố "xã hội" gắn liền với việc đảm bảo an toàn lao động cho người sản xuất, không sử dụng lao động trẻ em và duy trì sinh kế ổn định. Trong khi đó, yếu tố "quản trị" cốt lõi chính là sự minh bạch thông qua việc ghi chép nhật ký canh tác số và tham gia vào các tổ hợp tác để có tư cách pháp nhân hợp pháp.

Nhìn ra thế giới, việc biến các tiêu chuẩn học thuật thành hành động thực tế cho nông dân quy mô nhỏ đã được nhiều quốc gia triển khai hiệu quả. Điển hình tại Indonesia, hệ thống của Diễn đàn Cà phê Bền vững quốc gia đã đơn giản hóa các bộ tiêu chuẩn quốc tế thành những chỉ dẫn canh tác bằng hình ảnh sinh động.

Thay vì ép nông dân vận hành các hệ thống kiểm toán phức tạp, họ tổ chức cho các nhóm nông hộ tự chấm điểm và giám sát chéo lẫn nhau về việc giảm phân bón hóa học, bảo vệ nguồn nước. Mô hình quản trị tinh gọn này giúp hơn 18.000 nông hộ nhỏ tại vùng Sumatra đạt chứng nhận xanh, giúp sản phẩm được các tập đoàn lớn bao tiêu với mức giá cao hơn thị trường.

Chuyên gia nông nghiệp trực tiếp hướng dẫn nông dân tại Nam Sumatra (Indonesia), giúp các nông hộ nhỏ dễ dàng tiếp cận và thực hành tiêu chuẩn canh tác bền vững. Ảnh: Michael Taylor.

Chuyên gia nông nghiệp trực tiếp hướng dẫn nông dân tại Nam Sumatra (Indonesia), giúp các nông hộ nhỏ dễ dàng tiếp cận và thực hành tiêu chuẩn canh tác bền vững. Ảnh: Michael Taylor.

Để hiện thực hóa lộ trình giảm phát thải, các đơn vị quản lý và người sản xuất cần xác định rõ các điểm phát thải lớn nhưng phải bắt đầu hành động từ những việc dễ thực hiện và ít tốn kém nhất.

Theo ông Phạm Hoài Trung, khi xây dựng lộ trình nông nghiệp phát thải thấp, không nên đặt vấn đề theo kiểu chọn một trong hai giữa xử lý điểm phát thải lớn nhất hay bắt đầu từ việc dễ làm nhất. Cách tiếp cận thực tế hơn là phải kết hợp cả hai để vừa có kết quả sớm, vừa tạo niềm tin cho nông dân.

Trong canh tác lúa gạo, lượng khí methane từ ruộng ngập nước đóng góp tỷ trọng lớn vào tổng lượng phát thải của ngành nhưng việc áp dụng ngay lập tức các công nghệ đo đạc phức tạp là không khả thi đối với các nông hộ nhỏ lẻ. Thay vào đó, việc áp dụng kỹ thuật tưới ngập khô xen kẽ, giảm khối lượng giống gieo sạ và chấm dứt việc đốt rơm rạ sau thu hoạch là giải pháp mang lại hiệu quả kép. Những biện pháp này vừa giúp giảm lượng khí nhà kính phát thải vào môi trường, vừa tiết kiệm chi phí vật tư đầu vào cho người nông dân.

Giải bài toán công nghệ số cho nông dân

Trở ngại lớn nhất hiện nay của nông hộ nhỏ khi tiếp cận các tiêu chuẩn phát triển bền vững là chi phí đầu tư cho hệ thống dữ liệu, phần mềm kiểm kê và các chứng nhận quốc tế. Để giải quyết nút thắt này, ông Phạm Hoài Trung đề xuất cơ chế tài chính của chuỗi cung ứng nông sản phải dựa trên nguyên tắc chia sẻ chi phí theo lợi ích thực tế.

Bài học từ chuỗi cung ứng dứa tại Costa Rica do Hiệp hội Quốc gia các nhà sản xuất và xuất khẩu dứa triển khai cho thấy, khi thị trường châu Âu siết chặt quy định truy xuất nguồn gốc, các doanh nghiệp xuất khẩu lớn đã chủ động đứng ra đầu tư toàn bộ hạ tầng công nghệ, cung cấp ứng dụng di động và cử kỹ sư xuống tận đồng ruộng hỗ trợ nông dân.

Trong mô hình này, doanh nghiệp chịu trách nhiệm chi trả chi phí phần mềm và kiểm toán độc lập. Ngược lại, nông hộ nhỏ đóng góp bằng sự kỷ luật, tuân thủ nghiêm ngặt quy trình canh tác sạch, không lạm dụng hóa chất và cung cấp thông tin sản xuất trung thực để đảm bảo tính xác thực của dữ liệu.

Bên cạnh đó, cơ quan quản lý nhà nước đóng vai trò kiến tạo thông qua việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật nền tảng như cấp mã số vùng trồng, chuẩn hóa dữ liệu nông nghiệp địa phương và công nhận tiêu chuẩn.

Các hiệp hội ngành hàng cũng cần xây dựng các bộ tiêu chí tối giản, phù hợp với đặc thù sản xuất của từng địa phương để tránh tình trạng nông dân phải đáp ứng quá nhiều yêu cầu chồng chéo từ các nhà mua hàng khác nhau. Đồng thời, các đơn vị phát triển công nghệ có trách nhiệm thiết kế các công cụ quản lý số đơn giản, dễ vận hành, phù hợp với trình độ kỹ thuật của người lao động trực tiếp nhằm ngăn chặn tình trạng quá tải thông tin hành chính.

Ông Phạm Hoài Trung nhấn mạnh rằng tiêu chuẩn bền vững chỉ thành công khi nó giúp nông dân bán hàng tốt hơn, giảm chi phí hơn và được tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Xuyên suốt thập kỷ tới, xu hướng tiêu dùng toàn cầu sẽ định nghĩa lại giá trị của các sản phẩm nông sản dựa trên khả năng minh bạch hóa toàn bộ hành trình sản xuất. Một sản phẩm nông nghiệp thông minh trong tương lai không chỉ được đánh giá bằng năng suất, chất lượng hay giá thành, mà phải chứng minh được các chỉ số về môi trường và xã hội thông qua một hồ sơ dữ liệu số đáng tin cậy.

Khi thông tin về lượng nước sử dụng, mức độ phát thải khí nhà kính và điều kiện an toàn lao động được kiểm chứng độc lập, nông sản Việt Nam mới có thể tiếp cận các nguồn tài chính xanh và khẳng định vị thế cạnh tranh trên trường quốc tế. Việc bình dân hóa tiêu chuẩn bền vững chính là giải pháp chiến lược để bảo vệ sinh kế của hàng triệu nông hộ và thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp chuyển đổi thực chất.

 

Xem thêm: https://nongnghiepmoitruong.vn/binh-dan-hoa-tieu-chuan-esg-giup-nong-ho-nho-tham-gia-chuoi-cung-ung-d821077.html